Gần đây thấy nhiều người bàn luận về biến động của thị trường chứng khoán Mỹ, tôi cũng đã tổng hợp một số ý kiến. Nói thật, nguyên nhân khiến thị trường Mỹ giảm mạnh chưa bao giờ là một yếu tố đơn lẻ, thường là do nhiều áp lực cộng hưởng lại với nhau mới gây ra.



Trong đợt giảm này, tôi để ý đến một vài điểm mấu chốt. Thứ nhất là tình hình địa chính trị Trung Đông leo thang, Mỹ và Israel tiến hành các hoạt động quân sự chống Iran đã ảnh hưởng trực tiếp đến 20-25% tuyến vận chuyển dầu mỏ toàn cầu, việc tắc nghẽn vận chuyển qua Eo biển Hormuz khiến giá dầu tăng vọt. Giá dầu cao không chỉ đẩy cao chi phí doanh nghiệp, mà còn làm gia tăng lo ngại về lạm phát đình trệ. Thứ hai, lập trường chính sách của Cục Dự trữ Liên bang (Fed) có sự chuyển hướng. Cuộc họp FOMC tháng 3 duy trì lãi suất ở mức 3.5%-3.75%, nhưng biểu đồ dự báo (dot plot) cho thấy mức giảm lãi suất vào năm 2026 rõ ràng đã thu hẹp, thậm chí có thể chỉ giảm một lần. Chủ tịch Powell cũng nhấn mạnh rằng nếu lạm phát vượt kiểm soát do năng lượng, có thể sẽ phải tăng lãi suất trở lại. Tính không chắc chắn này đã trực tiếp phá vỡ kỳ vọng trước đó của thị trường về việc duy trì chính sách nới lỏng liên tục.

Ngoài ra, một điểm dễ bị bỏ qua là định giá của AI. Trước đợt giảm này, các tập đoàn công nghệ lớn đã có tỷ lệ P/E cao hơn nhiều so với trung bình lịch sử, tâm lý chốt lời của nhà đầu tư rất mạnh. Khi tâm lý phòng ngừa rủi ro tăng cao, dòng tiền sẽ rút khỏi các cổ phiếu công nghệ định giá cao. Vì vậy, nguyên nhân khiến thị trường chứng khoán Mỹ giảm mạnh thực ra là sự kết hợp hoàn hảo của các yếu tố này.

Để hiểu rõ thị trường hiện tại, tôi nghĩ cần xem lại lịch sử. Năm 1929, cuộc Đại Suy thoái, chỉ trong 33 tháng, chỉ số Dow Jones giảm 89%, do bong bóng đòn bẩy vỡ tan cộng với chiến tranh thương mại, đã trực tiếp phá hủy nền kinh tế toàn cầu. Năm 1987, ngày thứ Hai đen tối, các hoạt động giao dịch tự động (quản lý theo thuật toán) gây ra chuỗi bán tháo, khiến Dow Jones giảm 22.6% trong ngày. Năm 2000, bong bóng internet vỡ, Nasdaq từ 5133 điểm rớt xuống 1108 điểm, giảm 78%, phải mất 15 năm để phục hồi. Năm 2007, khủng hoảng tín dụng dưới chuẩn, Dow Jones từ 14279 điểm rớt xuống 6800 điểm, gây ra khủng hoảng tài chính toàn cầu. Năm 2020, do tác động của dịch bệnh, thị trường Mỹ đã nhiều lần ngừng giao dịch tạm thời. Năm 2022, để chống lại đợt lạm phát cao chưa từng thấy trong 40 năm, Fed đã tăng lãi suất mạnh mẽ 7 lần, tổng cộng 425 điểm cơ bản, chỉ số S&P 500 giảm 27%, Nasdaq giảm 35%.

Ví dụ gần đây nhất là tác động của thuế quan của Trump tháng 4 năm 2025. Ngày 2 tháng 4, tuyên bố áp thuế 10% lên tất cả các đối tác thương mại, còn tăng thuế cao hơn đối với các quốc gia thâm hụt thương mại. Kết quả, ngày 4 tháng 4, chỉ số Dow Jones giảm 2231 điểm trong ngày, giảm 5.50%, S&P 500 giảm 5.97%, trong hai ngày, 3 chỉ số chính đều giảm hơn 10%. Nguyên nhân lần này là do chính sách vượt quá dự đoán, trực tiếp làm thay đổi quy tắc thương mại toàn cầu.

Xem qua các lịch sử này, tôi nhận ra một quy luật: nhiều lần thị trường Mỹ giảm mạnh trước đó đều xuất hiện bong bóng tài sản nghiêm trọng, giá trị đã xa rời nền tảng kinh tế thực. Khi bong bóng phình to đến cực điểm, chính sách chuyển hướng hoặc tác động từ bên ngoài sẽ là giọt nước làm tràn ly, gây ra cú sập lớn.

Vậy thị trường Đài Loan sẽ ra sao? Thẳng thắn mà nói, mối liên hệ giữa thị trường Đài Loan và Mỹ rất chặt chẽ. Khi thị trường Mỹ giảm mạnh, sẽ ảnh hưởng qua ba kênh: tâm lý thị trường lây lan khiến nhà đầu tư cùng bán tháo, dòng vốn rút khỏi các nhà đầu tư nước ngoài, và giảm nhu cầu xuất khẩu của Đài Loan do suy thoái kinh tế Mỹ. Các tình huống như dịch bệnh năm 2020 hay tháng 2, 3 năm nay đều chứng minh điều này, thị trường Đài Loan theo sau giảm mạnh cùng thị trường Mỹ.

Ngoài ra, vàng, trái phiếu, đô la Mỹ cũng sẽ biến động theo. Khi thị trường Mỹ giảm mạnh, thường kích hoạt chế độ phòng ngừa rủi ro, dòng tiền sẽ chảy từ cổ phiếu sang trái phiếu chính phủ Mỹ, đô la, vàng – các tài sản an toàn hơn. Lợi tức trái phiếu Mỹ sẽ giảm, đô la tăng giá, vàng tăng giá. Nhưng nếu đợt giảm bắt nguồn từ lạm phát phi mã dẫn đến tăng lãi suất (như năm 2022), có thể sẽ xảy ra tình trạng cả cổ phiếu lẫn trái phiếu cùng giảm. Trong hàng hóa, giá dầu và đồng thường đi theo chiều giảm của thị trường, nhưng nếu đợt giảm do xung đột địa chính gây gián đoạn nguồn cung, giá dầu có thể ngược dòng tăng. Thứ nữa, tiền điện tử phản ánh rõ hơn xu hướng của công nghệ, khi thị trường Mỹ giảm mạnh, thường cũng sẽ giảm mạnh theo.

Vậy nhà đầu tư nhỏ lẻ nên làm gì? Tôi đề xuất: tăng cường các tài sản phòng thủ trong danh mục, như trái phiếu doanh nghiệp chất lượng cao hoặc trái phiếu chính phủ, hoặc phân bổ các tài sản liên kết với lạm phát để chống lại biến động năng lượng. Chú ý đến tỷ lệ cổ phiếu công nghệ, nếu các cổ phiếu liên quan đến AI đang có định giá quá cao, có thể phân bổ một phần sang các ngành phòng thủ như tiện ích, y tế. Chuẩn bị phòng ngừa rủi ro, có thể dùng các công cụ quyền chọn hoặc ETF ngược để đối phó với đợt giảm cực đoan. Quan trọng nhất là giữ phần tiền mặt, khi thị trường chưa rõ xu hướng, điều này giúp bạn có thể mua vào giá rẻ sau khi giảm mạnh.

Dù sao đi nữa, quản lý rủi ro quan trọng không kém gì việc tìm kiếm lợi nhuận. Thay vì cố gắng dự đoán chính xác đáy hoặc theo đuổi mua bán theo đà, hãy xem xét khả năng chịu đựng rủi ro của bản thân và cân đối phân bổ tài sản. Tăng cường các tài sản phòng thủ, đa dạng hóa rủi ro, tận dụng tốt các công cụ phòng ngừa, giữ tiền mặt – đó là những cách tiếp cận ổn định hơn trong những đợt biến động cực đoan.
Xem bản gốc
Trang này có thể chứa nội dung của bên thứ ba, được cung cấp chỉ nhằm mục đích thông tin (không phải là tuyên bố/bảo đảm) và không được coi là sự chứng thực cho quan điểm của Gate hoặc là lời khuyên về tài chính hoặc chuyên môn. Xem Tuyên bố từ chối trách nhiệm để biết chi tiết.
  • Phần thưởng
  • Bình luận
  • Đăng lại
  • Retweed
Bình luận
Thêm một bình luận
Thêm một bình luận
Không có bình luận
  • Đã ghim